Bài tập nhóm tháng môn Nguyên lý Mác- Lê-nin

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

default Bài tập nhóm tháng môn Nguyên lý Mác- Lê-nin

Bài gửi by LP1112 on Thu Oct 21, 2010 6:10 pm

I. Đặt vấn đề:
Phạm trù là kết quả của những quá trình phản ánh những mối liên hệ được lặp đi lặp lại của đời sống, và trong trường hợp này, phạm trù nguyên nhân và kết quả là những phạm trù chứng minh cho quan niệm đó. Mối liên hệ nguyên nhân và kết qủa là mối liên hệ vốn có của thế giới vật chất. Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Chính những tác động của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất, nó được phản ánh ở trong nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã làm cho thế giới vận động, sự tác động đó nếu đặt trong mối quan hệ với kết quả thì đó là nguyên nhân. Vì vậy, bất kỳ một sự vận động nào ở trong thế giới vật chất suy cho cùng đều là những mối liên hệ nhân quả, xét ở những phạm vi khác nhau, những thời điểm khác nhau và những hình thức khác nhau. Và với mục đích để làm rõ và có cái nhìn khách quan hơn về cặp phạm trù nguyên nhân- kết quả với nội dung và ý nghĩa của nó trong triết học Mác- Lê-nin, đó cũng chính là đề tài mà nhóm em sử dụng trong bài tập nhóm tháng của mình.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Khái niệm:
Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó.
Kết quả là một phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
2. Những nội dung chính của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả:
Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện.
Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không hoàn toàn thụ động, nó vẫn có khả năng tác động trở lại nguyên nhân.
Nguyên nhân- kết quả có thể hoán đổi vị trí cho nhau.
Một số nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả và ngược lại một kết quả có thể được ra đời từ nhiều nguyên nhân.
Kết quả không bao giờ được to hơn nguyên nhân
1. Tình huống:
Sau đây là ba tình huống thực tiễn nhằm làm rõ nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả:
a) Vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị:
Cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học kĩ thuật, vẫn đề ô nhiễm môi trường càng trở nên trầm trọng, tình trạng rác thải, ô nhiễm bầu không khí, môi trường đất, nước, hiệu ứng nhà kính v.v…. và việc bảo vệ môi trường trở thành một trong những vấn đề quan trọng bức thiết của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nhưng trước khi tìm ra các giải pháp cho vấn đề này chúng ta cần phải hiểu rõ những nguyên nhân gây ra chúng dựa theo cặp phạm trù nguyên nhân kết quả.
Nguyên nhân có trước quyết định đến kết quả, còn kết quả có sau tác động ngược trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi. Vế sau được thể hiện rất rõ qua vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay. Ô nhiễm môi trường có nguyên nhân từ sự phát triển kinh tế không phù hợp với sự phát triển cơ sở hạ tầng, cùng với đó là ý thức của cá nhân và tổ chức về việc giữ gìn môi trường còn kém, đến lượt mình hai yếu tố về nguyên nhân kia lại trở thành kết quả tác động đến môi trường khiến nó càng bị tàn phá và ô nhiễm nặng nề. Vì vậy, nếu sự phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với sự phát triển kinh tế cộng với đó là ý thức của từng cá nhân và cộng đồng được nâng cao thì vấn nạn ô nhiễm môi trường sẽ giảm một cách đáng kể.
Và theo như mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả thì nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, có trước kết quả. Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay ở các đô thị không phải tự nó xuất hiện mà là do một quá trình tác động lâu dài của con người vào môi trường, với những tác động xấu, con người đã làm biến đổi nguồn nước, bầu không khí, lòng đất v.v…khiến chúng bị nhiễm những chất độc hại, khói bụi v.v…
Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên.Và chắc chắn sự ô nhiễm môi trường đô thị không thể chỉ có một nguyên nhân và từ một nguyên nhân đó cũng sinh ra nhiều kết quả. Ô nhiễm môi trưòng bao gồm ô nhiễm môi trường nước, bầu không khí, đường phố v.v… Vấn đề đầu tiên gây nhức nhối hiện nay ở hầu hết các đô thị đó là tình trạng ô nhiễm môi trường nước, môi trường nước mặt ở các đô thị đều là nơi tiếp nhận các nguồn nước chưa được xử lý nên đã bị ô nhiễm, có nơi ô nhiễm nặng. “ Nồng độ chất ô nhiễm trong nước mặt thường cao như chất rắn lửng lơ nhu cầu ôxy hóa học, nitorit, nitorat,… gấp từ 2 đến 5 lần thậm chí từ 10 đến 15 lần tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước mặt. Lượng hóa học côli cho phép vượt hàng trăm lần. Ngoài chất ô nhiễm hữu cơ trên môi trường nước mặt đô thị ở một số nơi còn bị ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất độc hại như thủy ngân, clo, phenol,…”.Nguyên nhân của hiện tượng này là do lượng nuớc thải công nghiệp từ các nhà máy chưa qua xử lý , nước thải sinh hoạt và đặc biệt nguy hiểm hơn là lượng nước thải bệnh viện: chứa nhiều mầm mống gây bệnh truyền nhiễm và các hóa chất độc hại, chỉ được xử lý sơ bộ lại được thải trực tiếp vào nguồn nước mặt và là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Bên cạnh đó, thì cũng có những nguyên nhân bên trong gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường nước là do hệ thống thoát nước chưa đạt yêu cầu. Hệ thống thoát nước hiện nay tại các đô thị đều là hệ thống chung cho cả thoát nước mưa, nước thải công nghiệp. Hệ thống thoát nước này chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, tiết diện các đường cống nhỏ và bị bùn cạn lắng đọng làm khả năng thoát nước kém, hệ thống cống rãnh thưa, nhiều đường phố không có cống thoát nước. Hệ thống cống rãnh yếu với việc nhiều hồ ao bị san lấp gây ra tình trạng úng ngập trong mùa mưa, nước bẩn, mất vệ sinh gây ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe của con người. Thêm vào đó, không gian đô thị ngày càng đuợc mở rộng, đồng nghĩa với việc đất nông nghiệp bị chiếm dụng, tài nguyên đất bị khai thác triệt để, tỷ lệ cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm dần đẫn đến tình trạng thiếu ôxy, ngột ngạt, ô nhiễm.Bề mặt đất thấm nước, thoát nước bị suy giảm cũng dẫn đến tình trạng ngập úng gây ô nhiễm. Điển hình như trận lụt lịch sử của cả thành phố Hà Nội tháng 11/2008. Cả thành phố ngập trong nước mưa vì nước ko thoát được, gây ngập úng ô nhiễm nghiêm trọng nhiều ngày trong thành phố.
Ngoài ô nhiễm môi trường nước, chúng ta còn phải kể đến một thực trạng của ô nhiễm môi trường nữa, đó là ô nhiễm bầu không khí. Có hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự ô nhiễm này. Thứ nhất, là do số lượng các phượng tiện tham gia giao thông tăng chóng mặt ở các đô thị, vượt quá khả năng chịu tải của hệ thống giao thông gây tình trạng tắc nghẽn và thải ra nhiều khí bụi độc hại (NO, CO). Thứ hai, là do lượng khí thải từ các nhà máy công nghiệp, hóa chất không qua xử lý mà được thải thẳng vào bầu khí quyển. Theo như thống kê, các đô thị đều ở mức ô nhiễm không khí ở mức báo động, “nồng độ bụi trung bình” ở các thành phố là 0,4 đến 0,5 mg/m, nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hay gần đường giao thông lớn đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần. Nơi bị ô nhiễm lớn nhất trong các địa điểm là khu dân cư gần các nhà máy xi măng Hải phòng. Nồng độ khí SO2, CO, NO2 trong không khí ở một số khu trung cư gần khu công nghiệp hoặc ở một số nút giao thông lớn trong đô thị cũng vượt quá nhiều lần mức độ cho phép. Ngoài ra, tỷ lệ cây xanh thấp trong các đô thị cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm của bầu không khí.
Một nguyên nhân nữa dẫn đến tình trạng ô nhiêm môi trường đô thị là do quá trình đô thị hóa làm tăng dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị làm tăng sức ép về nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị. Cùng với đó giá đất ở mức cao, khiến cho nhiều người di cư tới các vùng đô thị mà không có được nhà ở và một cuộc sống bảo đảm, họ phải sống tạm bợ trong những căn lều trại, hay những ngôi nhà thuộc đất công chiếm dụng được, điều kiện sống kém, mất vệ sinh gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của chính họ và gây ô nhiễm môi trường đô thị.
Thêm vào đó, ô nhiễm môi trường còn bắt nguồn từ ý thức giữ gìn vệ sinh của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức còn yếu kém. Đây là một tồn tại rất khó khắc phục, phải dựa trên
Tất cả những nguyên nhân trên đã gây nên một kết quả là làm môi trường đô thị ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng.Và theo như mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả thì kết quả có thể tạo được nguyên nhân. Mối quan hệ nhân quả là một chuỗi những sự nối tiếp giữa nguyên nhân và kết quả. Không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng. Và vì vậy, cũng chính sự ô nhiễm môi trường là nguyên nhân gây ra sự tổn hại đối với sức khỏe, cuộc sống con người, tới các quy luật của tự nhiên và tới trái đất. Chắc hẳn chúng ta đã từng nghe rất nhiều về cụm từ “ làng ung thư”, để chỉ những ngôi làng có quá quá nhiều người bị nhiễm căn bệnh này. Nguyên nhân là do vị trí của những vùng dân cư nằm gần những nhà máy công nghiệp, hóa chất, họ phải sinh hoạt bằng nguồn nước bị nhiễm độc do nước thải từ các nhà máy được thải xuống sông hồ hay ngấm vào đất. Ngày nay, bầu không khí nhiều khói bụi và các chất độc hại có trong không khí cũng là những nguyên nhân gây nên nhiều căn bệnh nguy hiểm đối với con người. Vì vậy mà chúng ta có thể khẳng định trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau, trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại.
Việc dựa vào cặp phạm trù nguyên nhân kết quả để xác định được nguyên nhân của hiện tượng ô nhiễm môi trường, chúng ta có thể tìm được những giải pháp cho vấn đề nan giải này bởi tính nhân quả là tính khách quan và quy luật con người có thể nhận thức, vận dụng nó để đạt được mục đích của mình, tạo điều kiện cho nguyên nhân đi đến kết quả và ngược lại, đồng thời hạn chế hoặc tiêu diệt những nguyên nhân, những điều kiện sinh ra hiện tượng xấu. Cải tạo sự vật hay xóa bỏ vật chính là cải tạo hay xóa bỏ nguyên nhân sinh ra nó. Để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường, cụ thể là hiện trạng ô nhiễm nguồn nước, chúng ta có thể áp dụng những chính sách, quỹ môi trường xanh để áp dụng những công nghệ sạch, ít chất thải, công nghệ xử lý chất thải. Đối với bầu không khí, chúng ta nên sử dụng những nhiên liệu sạch, không gây hại môi trường cho các các phương tiện giao thông máy móc, xử lý khí thải trước khi thải vào bầu không khí. Đồng thời đẩy mạnh phong trào văn hóa công tác bảo vệ môi trường trong từng gia đình, từng khu dân cư, trồng nhiều cây xanh, tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người dân.
b) Vấn đề khủng hoảng kinh tế:
Theo như mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả thì nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, có trước kết quả. Vấn đề khủng hoảng kinh tế không phải tự dưng mà nó xuất hiện, nó được hình thành lâu dài và tích tụ dần bởi sự suy sụp của thị trường bất động sản( hay được gọi là bong bóng nhà ở), và sự giám sát lơi lỏng thiếu chặt chẽ của chính phủ Hoa Kỳ đã đẩy nền kinh tế lớn nhất thế giới vào cuộc suy thoái nghiêm trọng đầu thế kỷ 21.
Giữa nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết và không tách rời. Nguyên nhân có trước quyết định đến kết quả, còn kết quả có sau tác động ngược trở lại nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến đổi. Ở đây, ta có thể thấy khủng hoảng kinh tế là do sự phát triển thiếu tính định hướng, sự phát triển quá nóng của thị trường bất động sản, cùng với đó là sự quản lý lỏng lẻo không rõ ràng của chính phủ Hoa Kỳ. Đến lượt mình, sự phát triển thiếu tính định hướng chạy theo lợi nhuận không nghĩ đến hậu quả tác động mạnh vào kinh tế khiến nền kinh tế mất phương hướng, ngày càng rơi vào một cuộc khủng hoảng sâu. Nhưng ngược lại, ngay từ đầu nếu nền kinh tế có được sự phát triển minh bạch, có chiến lược rõ ràng về sự phát triển của thị trường bất động sản, kết hợp với đó là sự giám sát hợp lý, điêù tiết khoa học của chính phủ Hoa Kỳ thì sẽ làm cho rủi ro khủng hoảng giảm đáng kể, nền kinh tế Hoa Kỳ và của thế giới lại tiếp tục được phát triển.
Một kết quả có thể ra đời từ nhiều nguyên nhân. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới được bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là do sự suy sụp của thị trường bất động sản: khi lãi suất cho vay để mua bất động sản liên tục hạ, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của Fed, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản). Bên cạnh đó về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Bằng cách đổ vốn vào thị trường bất động sản và mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities - MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ khiến sự rủi ro về một cuộc khủng hoảng được di truyền hầu khắp các công ty, tài chính ngân hàng lớn của Mỹ . Ngoài ra, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa. Nó đã trở nên một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc. Đó chính là lý do khiến cho khủng hoảng kinh tế Mỹ lan rộng ra toàn thế giới, bởi nhiều công ty tài chính lớn ở các nước trên thế giới đã mua loại chứng khoán hoá mang tính rủi ro tương cao, mà không có một sự kiểm tra rõ ràng về tính minh bạch của các loại chứng khoán hoá đó.
Thứ hai là sự lơi lỏng thiếu giám sát ở Hoa Kỳ khi để nền kinh tế phát triển quá nóng thiếu định hướng gây ra những khoản nợ xấu không trả đc, nền kinh tế thiếu tính thanh khoản.
Thứ ba, là sự đầu cơ của các công ty tài chính và sự nhập nhèm giá trị của các khoản tín dụng, chứng khoán hoá đã để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng khi hàng loạt các công ty tài chính lớn ở một số nước như: Anh, Tây Ban Nha… cũng tham gia. Sự đầu cơ dù không phải là nguyên nhân chính nhưng nó cũng góp phần khiến cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, có thể liên hệ rõ nhất qua cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997 mà nguyên nhân phần lớn từ sự đầu cơ. Bởi sự đầu cơ khiến cho tài sản được định một mức giá ảo không phù hợp với thị trường thực, cùng với đó nó còn làm rối loạn nền tài chính khi đẩy đồng tiền mất giá.
Ngược lại, một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả. Ví dụ, do khủng hoảng tài chính thế giới đã để lại hậu quả vô cùng lớn như nền kinh tế thế giới sụt giảm nghiêm trọng về tốc độ phát triển, nhiều nền kinh tế có mức phát triển âm từ sau cuộc khủng hoảng, thị trường tài chính, xuất nhập khẩu trên thế giới gần như đóng băng hoàn toàn gây nên những hệ luỵ lớn như: tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, hàng hoá khan hiếm đắt đỏ, tệ nạn xã hội… Cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo sự sụp đổ của một loạt các công ty, tài chính, ngân hàng của nhiều nền kinh tế hàng đầu thế giới như: Mỹ, Anh, Tây Ban Nha… Nhưng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng cuộc khủng hoảng tài chính đã mang lại nhiều tin hiệu tích cực cho kinh tế thế giới.
Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế mới nổi giúp kinh tế thế giới thoát khỏi cuộc khủng hoảng cũng như có những định hướng kinh tế mới. Bằng chứng là sự phát triển thần kỳ của Trung Quốc cũng như một số nước châu Á đã vực dậy được nền kinh tế thế giới. Giờ đây vị thế của các nước mới nổi như: Trung Quốc, Braxin, Ấn Độ, Nga… ngày càng được khẳng định, trong các cuộc họp G20 tiếng nói của họ ngày càng có trọng lượng. Đặc biệt, Trung Quốc đang trở thành một thế lực mới nổi trong kinh tế thế giới, khiến cho trật tự kinh tế đa cực ngày càng được mở rộng và phát triển, vô hình chung nó làm cho cán cân kinh tế thế giới trở nên cân bằng hơn.
Thứ hai là vai trò ngày càng lớn của nhà nước trong việc tham gia điều tiết nền kinh tế ở các nước tư bản. Điển hình là Mỹ, do phát triển quá nóng, quá tự do không có một sự định hướng nhất định khiến nền kinh tế lâm vào cuộc khủng hoảng. Chính lúc này sự ra tay giúp đỡ của nhà nước trở nên vô cùng quan trọng, khi chính phủ Mỹ đã cứu hàng loạt các công ty, tài chính, ngân hàng lớn của Mỹ khỏi bờ vực phá sản, có điều kiện được tái cơ cấu và phát triển.
Thứ ba là vai trò cần thiết của các tổ chức kinh tế thế giới như: Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), ngân hàng thế giới (WB), tổ chức kinh tế thế giới (WTO), G7, G20, BRIC… Các tổ chức này đã đóng so với khu vực cũng như trên thế giới so với khu vực cũng như trên thế giới. Theo như mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả thì nguyên nhân
quan trọng trong việc cứu thoát nền kinh tế thế giới khỏi khủng hoảng, bàn bạc để đưa ra giải pháp phù hợp, cũng như
Ngoài ra, chính cuộc khủng hoảng kinh tế này cũng giúp cho các nước tư bản rút kinh nghiệm mà có sự điều chỉnh phát triển nền kinh tế cho phù hợp tránh đi vào lối mòn. Kinh nghiệm từ nhiều cuộc khủng hoảng trước đã cho ta thấy, mỗi lần nền kinh tế thế giới hay bất kỳ một nền kinh tế của một nước thoát khỏi khủng hoảng thì họ sẽ bắt đầu một chu kỳ phát triển mới ở mức cao hơn, tiến bộ hơn.
Như Mác đã từng khẳng định: Cứ 10 năm một lần nền kinh tế tư bản sẽ lâm vào một cuộc khủng hoảng. Đó gần như là một quy luật tất yếu đã được chứng minh bằng thực tiễn. Dù các cuộc khủng hoảng khác nhau nhưng chúng đều có một nguyên nhân và kết quả tương đối giống nhau: Sự phát triển thiếu tính định hướng được kích phát từ lòng tham của con người muốn thu được nhiều lợi nhuận, đã khiến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Nhưng sau khi thoát khỏi khủng hoảng họ đã rút ra được bài học để từ đó đưa nền kinh tế phát triển ở một tầm mới cao hơn và chặt chẽ hơn.
c. Sự xuống cấp về đạo đức của giới trẻ hiện nay:
Cùng với sự phát triển về mặt kinh tế, nền kinh tế thị trường đang dần bộc lộ những mặt trái, ảnh hưởng xấu tới xã hội Việt Nam. Vài năm gần đây, tình trạng xuống cấp về đạo đức của một bộ phận trong giới trẻ đang là mối lo lớn nhất cho toàn xã hội. Giới trẻ luôn luôn được Đảng, Nhà nước và Xã hội quan tâm, chăm sóc bởi đây chính là chủ nhân tương lai của đất nước, đất nước có giàu mạnh, phát triển hay không là nhờ cả vào bàn tay khối óc của thế hệ này. Nhưng bên cạnh những bạn trẻ ý thức được điều đó, đang ngày càng phấn đấu cho tương lai của bản thân, của đất nước thì lại có những bạn trẻ đang dần đánh mất đi những phẩm chất đạo đức của chính mình. Đây là một vấn đề gây đau đầu cho các cơ quan nhà nước, xã hội, gia đình và nhà trường. Vậy dựa theo cặp phạm trù nguyên nhân kết quả, chúng ta phải xác định được nguyên nhân của hiện tượng này, từ đó tìm ra được những giải pháp khắc phục.
Đây là điều đã được các nhà chức trách dự báo trước, khi nền kinh tế thị trường du nhập vào VN. Chỉ có điều những tác hại đó đã bùng phát quá nhanh, quá mức tưởng tượng khi mà chúng ta mới thực hiện nền kinh tế thị trường gần 20 năm. Vậy điều gì đã làm nó trở thành một căn bệnh như vậy .Theo như chủ nghĩa Mác – Lênin với cặp phạm trù nguyên nhân kết quả thì chúng ta có thể có những lý giải phần nào về vấn đề này.
Trước hết, cần nói về nguyên nhân của sự xuống cấp đạo đức này. Rõ ràng, nguyên nhân lớn nhất lại là về vấn đề kinh tế. Nếu ta coi Việt Nam là 1 sự vật thì nền kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng chính là các thuộc tính cơ bản của sự vật đó.
Sự xa sút về mặt kinh tế VN cuối những năm 80 của thế kỷ 20 khiến cho nhà nước ta buộc phải thay đổi chính sách kinh tế. Nền kinh tế thị trường nhiều thành phần du nhập vào nước ta là một nguyên nhân kéo theo rất nhiều hệ quả. Và một trong số đó là hiện tượng xuống cấp về đạo đức, đặc biệt là thế hệ trẻ. Ngày nay, ta có thể thấy rõ mặt tích cực của nó, đó là làm thúc đẩy sự phát triển của đất nước, VN khoác lên mình một diện mạo mới tràn trề sức sống. Nhưng cùng với nó , vấn nạn về sự xuống cấp về mặt đạo đức cùng những giá trị truyền thống đã bộc lộ rõ. Văn hóa phương Tây đã du nhập vào VN cùng với sự thay đổi mang theo sự tiến bộ và cả tác hại của nó. Bên cạnh đó, giới trẻ VN chưa có nhận thức đứng đắn về những thứ văn hóa đó. Điều đó là do trình độ nhận thức của giới trẻ chúng ta còn thấp , cộng với tâm lí thích vui chơi hưởng thụ đã làm cho sự xuống cấp vè mặt đạo đức lây lan. Thực tế cho thấy, sự xuống cấp về mặt đạo đức của giới trẻ đã bộc lộ rõ cả về mặt nhận thức và hành động. Những năm gần đây, số tội phạm đang ngày càng gia tăng đặc biệt ở độ tuổi dưới 18. Những thứ phim ảnh đồi trụy,những video clip bạo lực, khiêu dâm đang ngày càng lây lan qua mạng internet , game online đang ngày ngày bòn rút sức lực và trí lực của thế hệ trẻ. Những tư tưởng lệch lạc về gia đình, thầy cô và bạn bè đang ngày càng chiếm lĩnh tâm tưởng của các bạn trẻ. Ngày nay, chúng ta chắc hẳn không còn xa lạ gì với những tin tức nữ sinh đánh nhau, học sinh vô lễ với bố mẹ, thầy cô, không chịu học hành và xa ngã vào các tệ nạn xã hội. Thậm chí còn có những vụ việc kinh hoàng như học sinh dùng dao đâm chém nhau trước cổng trường và đã có người tử vong như vụ việc xảy ra vào ngày 24/10/2009 ở trường THPT Nguyễn Trãi,( quận Ba Đình), và còn rất nhiều những vụ việc vi phạm pháp luật hình sự , v.v...Đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng xuống cấp về đạo đức của giới trẻ hiện nay và trở thành một vấn nạn nhức nhối trong xã hội.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin với cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả thì vấn đề này được giải thích như sau. Trước hết, phạm trù nguyên nhân chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong 1 sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau tạo nên sự biến đổi nhất định (ở đây các mặt Kinh tế - Chính trị – xã hội tư tưởng là những mặt trong 1 sự vật, mà sự vật đó chính là đất nước. Các mặt đó đang tác động qua lại lẫn nhau tạo nên sự biến đổi nhất định làm cho đạo đức bị xuống cấp).
Chính những sự tác động này đã dẫn đến sự biến đổi về mặt tư tưởng, đạo đức của con người và đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất đó là thế hệ trẻ.
Trong mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả thì không có nguyên nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng. Ví dụ: Sự sa sút kinh tế những năm 80 là nguyên nhân để thực hiện kinh tế thị trường. Mà kinh tế thị trường lại là nguyên nhân trực tiếp để xuất hiện sự xuống cấp về đạo đức của giới trẻ. Tiếp đó, sự xuống cấp về đạo đức của giới trẻ lại là nguyên nhân làm cho tình trạng tội phạm nhức nhối. Ngược lại, chính tình trạng tội phạm là nguyên nhân để ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội...
Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả.Nền kinh tế thị trường làm thúc đẩy sự phát triển của đất nước nhưng cũng lại là nguyên nhân cho sự xuống cấp về đạo đức xảy ra.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Sự xuống cấp về mặt đạo đức có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan : nền kinh tế thị trường, sự du nhập của văn hóa phương Tây … và nguyên nhân chủ quan là do con người mải chạy theo đồng tiền, không quan tâm tới con cái, nhận thức của giới trẻ VN lệch lạc( ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng ở phương Tây), nhà trường chưa có cách giáo dục hợp lí …
Thêm vào đó, mối liên hệ nhân quả luôn có tính khách quan, tất yếu. Sự xuống cấp về đạo đức của giới trẻ là mặt trái của nền kinh tế thị trường.
Khi đã xác định được những nguyên nhân gây ra hiện tượng này, chúng ta có thể tìm được ra những giải pháp ngăn chặn hiện tượng này. Bởi quan hệ nhân quả mang tính khách quan và quy luật con người có thể nhận thức, vận dụng nó để đạt được mục đích của mình, tạo điều kiện cho nguyên nhân đi đến kết quả và ngược lại, hạn chế hoặc tiêu diệt những nguyên nhân, những hiện tượng xấu, cải tạo sự vật chính là cải tạo những nguyên nhân sinh ra nó. Để hạn chế được sự xuống cấp về đạo đức này, chúng ta phải ngăn chặn những văn hóa xấu, không lành mạnh từ nước ngoài vào Việt Nam, tăng cường giáo dục về ý thức cho thế hệ trẻ trong gia đình, nhà trường, phải giúp họ hiểu được bổn phận và trách nhiệm của họ đối với chính bản thân họ, gia đình và xã hội .
2. Ý nghĩa:
Vì mọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong nên không có vấn đề có hay không có nguyên nhân của một hiện tượng nào đó, mà chỉ có vấn đề các nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa được phát hiện mà thôi.
Nhiệm vụ của nhận thức nói chung của nhận thức khoa học nói riêng, chính là đi tìm nguyên nhân chưa được phát hiện để có thể hiểu đúng hiện tượng. Trong quá trình đi tìm nguyên nhân ấy cần lưu ý:
Vì mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng ở trong chính thế giới các hiện tượng chứ không thể ở ngoài đó. Và vì nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần tìm trong những măt, những sự kiện, những mối liên hệ đã xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
Dấu hiệu đặc trưng của nguyên nhân trong mối liên hệ với kết quả là nguyên nhân sinh ra kết quả, nên khi xác định nguyên nhân của hiện tượng cần đặc biệt chú ý đến dấu hiệu đặc trưng ấy.Cùng với đó một hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra nên trong quá trình xác định nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần hết sức tỉ mỉ, thận trọng, vạch ra cho được kết quả tác động của từng mặt, từng sự kiện, từng mối liên hệ cũng như của các tổ hợp khác nhau của chúng trong việc làm nảy sinh hiện tượng để trên cơ sở đó có thể xác định đúng về nguyên nhân sinh ra hiện tượng.
Ngoài ra, một hiện tượng trong mối quan hệ này là kết quả, trong mối quan hệ khác có thể là nguyên nhân để hiểu rõ tác dụng của hiện tượng ấy cần xem xét nó trong những quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong những quan hệ mà nó là kết quả.
Vì mối liên hệ nhân quả mang tính tất yêu nên ta có thể dựa vào mối liên hệ nhân quả để hành động. Trong quá trình hành động ấy, chúng ta cần lưu ý: Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó cần loại bỏ nguyên nhân làm nảy sinh ra nó.Muốn cho hiện tượng ấy xuất hiện cần tạo ra nguyên nhân cùng những điều kiện cần thiết cho nguyên nhân sinh ra nó phát sinh tác dụng. Vì hiện tượng này có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân tác động riêng lẻ hoặc đồng thời nên trong hoạt động thực tiễn cần tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp hành động thích hợp, chứ không nên hành động rập khuôn theo phương pháp cũ. Vì các nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân bên trong giữ vai trò quyết định trong sự xuất hiện, vận động và tiêu vong của hiện tượng, nên trong hoạt động thực tiễn cần dựa trước hết vào các nguyê nhân chủ yếu và nguyên nhân bên trong. Để đẩy nhanh( hay kìm hãm hoặc loại trừ) sự biến đổi của một hiện tượng xã hội nào đó cần làm cho các nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều( hay lệch hoặc ngược chiều) với chiều vận động của mối quan hệ nhân quả khách quan.
III. Tổng kết:
Tất cả các mối quan hệ mà phép biện chứng nêu lên đều là sự khái quát những đặc trưng của những mối liên hệ cụ thể, ở trong những lĩnh vực cụ thể của thế giới vật chất. Quan hệ về nhân - quả cũng như vậy, chúng ta có thể coi như quan hệ nhân - quả là kết quả của việc khái quát những hiện tượng từ một sự tác động này suy ra một kết quả khác ở trong rất nhiều lĩnh vực: trong tự nhiên, trong xã hội, cả trong vật lý, hóa học, cả trong đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa… Quan hệ nhân - quả là một trong những quan hệ có tính phổ biến nhất ở trong thế giới hiện thực. Đặc biệt, nó có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hình thành nhận thức của chúng ta. Quá trình nhân - quả được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ làm cho tư duy của con người phản ánh được những mối quan hệ nhân - quả, đồng thời khi nghiên cứu ở khía cạnh khác dẫn tới những kết luận về mặt phương pháp luận rất phong phú. Tóm lại, mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả là những cơ sở lý luận rất quan trọng giúp cho chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình hoạt động thực tiễn. Những hoạt động thực tiễn là cơ sở để cho chúng ta nhận thức được về đặc trưng của mối quan hệ nhân - quả và những đặc trưng này với tư cách là thành quả của nhận thức lại sẽ tiếp tục chỉ đạo cho con người trong hoạt động thực tiễn để có thể gặt hái được những thành công to lớn hơn.



LP1112
Moderator
Moderator

Nam
Tổng số bài gửi : 614
Age : 24
+ Nơi ở : paradise
+ Tính tình : hiền lành, điềm đạm, chân tình:))
+ Đang học/làm việc tại .... : TNH
+ Câu nói ưa thích của tớ .... : Hôm nay tôi mới biết mình đã đánh mất quá nhiều
Registration date : 02/01/2008

Character sheet
công lực:
0/0  (0/0)
kinh nghiệm:
125/125  (125/125)
nghề nghiệp.:

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết