thơ cổ ko chế

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

default thơ cổ ko chế

Bài gửi by Dark Knight on Tue Jun 17, 2008 10:00 am

Là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của văn học cổ Trung Hoa, thơ Đường với thi pháp và thể loại của nó cũng chiếm một địa vị quan trọng trong văn học nghệ thuật của bốn quốc gia dùng chữ Hán trước đây là Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Chẳng hạn, nếu gạt bỏ toàn bộ các yếu tố thi pháp Đường thi và tất cả các tác phẩm thơ Đường luật, chắc chắn kho tàng văn học viết Việt Nam trước thế kỷ XX sẽ trở nên trống vắng và vô hồn. Việc tìm hiểu thơ Đường ở Việt Nam hiện nay do đó không chỉ đơn thuần là tìm hiểu một giá trị văn hóa tinh thần, một thành tựu văn học nghệ thuật của nhân loại mà còn là tìm kiếm những phương tiện và cách thức để khai thác và kế thừa di sản văn hóa của cha ông.


Tuy nhiên, trong bốn quốc gia dùng chữ Hán trước đây, hiện chỉ có Việt Nam đang dùng một loại chữ viết chính thức khác. Sau hơn một trăm năm sử dụng chữ quốc ngữ la tinh, phần đông người Việt Nam hiện tại không có khả năng tiếp xúc trực tiếp với các văn bản Hán Nôm, còn những người may mắn biết chữ Hán Nôm cũng không phải đều có thể hiểu đúng tất cả các tác phẩm văn chương Hán Nôm của người Việt Nam các thế kỷ trước. Ở đây xuất hiện một khoảng cách không chỉ về ngôn ngữ - văn tự mà cả về tư duy - văn hóa. Trong phạm vi thơ Đường, khoảng cách ấy trước hết và chủ yếu là thi pháp. Tổng thể các yếu tố quan niệm triết học và mỹ học, các phương thức và chuẩn mực tiếp cận và đồng hóa thẩm mỹ hiện thực, các thủ pháp sáng tạo nghệ thuật... của thơ Đường là sản phẩm của một không gian văn hóa khác, một không gian đã lùi hẳn vào quá khứ đồng thời cũng ít nhiều trở nên xa lạ đối với nhiều người. Không phải ngẫu nhiên mà số người làm thơ Đường hiện nay không có nhiều, số người nắm vững thi pháp thơ Đường còn ít hơn, thậm chí ngay cả các nhà nghiên cứu nhiều khi cũng đưa ra những bản dịch thơ Đường (cả bản dịch nghĩa lẫn dịch thơ) trái hẳn thể cách của nguyên bản, và thơ Đường trong các tác phẩm và dịch phẩm ấy dường như chỉ còn là thơ Đường luật với những niêm luật, đăng đối... hình thức. Rõ ràng, nếu thừa nhận rằng tìm hiểu thơ Đường là một việc làm cần thiết và có ích, thì phải rút ngắn khoảng cách văn hóa nói trên. Nhưng nhìn từ định hướng ấy thì giới nghiên cứu và giảng dạy thơ Đường vẫn còn đứng trước nhiều khó khăn đáng kể trong đó nổi bật là tình trạng không phù hợp giữa phương tiện và mục đích, giữa cách thức và mục tiêu.


Mặc dù chắc chắn sẽ còn có nhiều nhà Hán học phiên dịch và giới thiệu, nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và phổ biến, các công trình nghiên cứu và giáo trình giảng dạy về thơ Đường theo kiểu “truyền thống” lâu nay cũng chỉ có thể đạt tới nhiều kết quả học thuật quan trọng hơn chứ khó có thể thu được một hiệu quả xã hội cần thiết. Bởi vì các công trình và giáo trình ấy chỉ có thể phục vụ cho một đối tượng hẹp gồm một số ít người đã được trang bị những tri thức cần thiết mà trước hết là lý luận văn học và chữ Hán. Ở đây thao tác bị giới hạn bởi định hướng, nên rõ ràng qua các công trình và giáo trình ấy thơ Đường vẫn chỉ hiện ra như một không gian chữ nghĩa, một không gian đóng kín thách đố tri thức thi học và năng lực cảm thụ của người đọc đồng thời là một không gian “được tạo ra trong phòng thí nghiệm”, biệt lập với hiện thực đương đại và tách rời khỏi thực tiễn xã hội. Trong khi đó, mục đích tối hậu của công việc lại là phải giúp đông đảo người đọc bình thường hiểu rõ để tiến tới chỗ đồng cảm được với cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm thơ Đường, đồng hóa được chúng thành tài sản tinh thần và tri thức của bản thân, biến được chúng thành phương tiện có hiệu quả của mỗi cá nhân trong thực tiễn văn hóa - xã hội. Nói đơn giản hơn, nếu chỉ đưa chữ nghĩa thơ Đường tới người đọc thì phải chuẩn bị cho họ cả học vấn lẫn định hướng để tiếp cận với không gian văn hóa của nó, còn nếu đưa thơ Đường cùng với không gian văn hóa của nó trước hết từ những khía cạnh tương đồng tới đời sống xã hội Việt Nam hiện tại thì chỉ cần tin tưởng vào kiến thức và kinh nghiệm sống của người đọc. Quyển Giai thoại thơ Đường này vừa là sự thể nghiệm vừa là sự phấn đấu làm theo cách thứ hai.


II.
Không thể định nghĩa từ “thơ Đường” bằng một mệnh đề, vì trong thực tế từ này mang trong nó ba nội dung khác hẳn nhau. Trên phương diện văn học sử, nó chỉ bộ phận thơ ca trong văn học viết thời Đường (1). Trên phương diện lý luận văn học, nó chỉ các hình thức thể loại thơ ca định hình từ thời Đường, còn gọi là thơ Đường luật, chủ yếu là hai loại thất ngôn, ngũ ngôn với các thể tứ tuyệt, bát cú và trường thiên (2). Trên phương diện thi pháp học, nó chỉ phương pháp sáng tác - phong cách sáng tạo với tổng thể các quan niệm thẩm mỹ và thủ pháp nghệ thuật đã định hình đồng thời trở thành chủ đạo trong thơ ca Trung Quốc thời Đường, thi pháp này được kế thừa và phát triển trong văn học viết của cả bốn quốc gia dùng chữ Hán là Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản sau đó. Quyển Giai thoại thơ Đường này là sưu tập một số giai thoại trong thơ ca thời Đường ở Trung Quốc, nghĩa là sử dụng ý nghĩa văn học sử, nhưng ý nghĩa này tự thân nó cũng ít nhiều bao hàm cả hai ý nghĩa thể loại và thi pháp. Cho nên ở đây cần nhìn lại thi pháp thơ Đường, một thi pháp mang nguyên lý sáng tạo có thể nói là khai phóng và nhân bản bậc nhất trong quan niệm nghệ thuật của các xã hội tiền tư bản.


Sau bộ Toàn Đường thi (còn có tên là Ngự định Toàn Đường thi) do nhóm Bành Định Cầu biên soạn theo lệnh của vua Khang Hy nhà Thanh (hoàn thành năm 1706) thu thập hơn 48.900 bài thơ của hơn 2.200 thi nhân thời Đường và Ngũ đại, các hợp tập thơ Đường được nhiều người biết tới nhất có lẽ là Đường thi tam bách thủ của Tôn Thu (1711 - 1778) tuyển 310 tác phẩm của 77 nhà thơ và Đường thi tam bách thủ tục tuyển của Vu Khánh Nguyên (1812 - 1860) tuyển 320 thi phẩm của 53 tác giả. Đáng chú ý là hai hợp tập trên đều không tuyển đúng 300 bài thơ, nên cái nhan đề “tam bách thủ” kia có một ý nghĩa khác - Tôn Thu và Vu Khánh Nguyên đã ví thơ Đường với Kinh Thi, vốn gồm 305 thiên (bài) nhưng vẫn được gọi chung là “Thi tam bách”. Việc đánh giá thơ Đường ngang với Kinh Thi trong hoàn cảnh Kinh Thi đang được coi là một trong năm tác phẩm kinh điển (Ngũ kinh) của toàn thể các môn đệ Nho gia như vậy cho thấy mức độ thành tựu lớn lao của nó, và trong thực tế thì có thể nói thơ ca cổ điển Trung Hoa có hai thành tựu lớn là thi pháp Kinh Thi và thi pháp thơ Đường.


Để giới thiệu đầy đủ và lý giải chi tiết các đặc điểm của thi pháp thơ Đường thì còn phải tiến hành nhiều công trình nghiên cứu lớn, song có thể nói ngay rằng khác hẳn Kinh Thi phản ảnh hiện thực như nó có - miêu tả để nhận thức, thơ Đường phản ảnh hiện thực như con người muốn - tái tạo để nhận thức. Với đặc điểm cơ bản trong nội dung và định hướng nghệ thuật này, thơ Đường cũng mau chóng hướng về một hệ thống thủ pháp sáng tạo đặc biệt dựa trên nguyên tắc nghệ thuật chủ đạo là tiếp cận và đồng hóa hiện thực khách quan bằng toàn bộ không gian tinh thần - thế giới tình cảm của người sáng tác. Những chi tiết khác biệt của đời sống đều được nhất hóa trong thế giới ấy, các mối liên hệ phổ biến của hiện thực đều được cải biến tại không gian ấy. Cho nên Lý Bạch nhìn thấy dòng sông chảy bên trời (Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu), Thôi Hiệu bị khói sóng nơi lầu Hoàng Hạc làm cho buồn bã (Yên ba giang thượng sử nhân sầu), ngọn nến trong thơ Đỗ Mục đau lòng trước cảnh chia ly nên nhỏ lệ thay người đến sáng (Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt, Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh), đóa mẫu đơn trong thơ Lưu Vũ Tích chê người già nua chứ không phải thi nhân tự thấy mình già (Đãn sầu hoa hữu ngữ, Bất vị lão nhân khai)... Lấy cái Tôi làm cái trục đồng quy, cái nền liên kết, thi pháp thơ Đường cũng giải phóng trí tưởng tượng và kích thích sự sáng tạo tới mức tối đa, và phá vỡ những khuôn khổ thông thường, vượt qua những ranh giới hiện hữu của thực tại đời sống, nó cũng tiến tới xây dựng một không gian nghệ thuật có chuẩn mực và phong cách riêng. Chẳng hạn vầng trăng thời Tần, cửa ải thời Hán có thể đồng hiện trong thơ Vương Xương Linh (Tần thời minh nguyệt Hán thời quan), lá thu rụng giữa thành Trường An là bởi ngọn gió thu trên sông Vị trong thơ Giả Đảo (Thu phong xuy Vị thủy, Lạc diệp mãn Trường An), đối với Trịnh Cốc thì mấy tiếng sáo buông trong lúc chia tay làm cho ly đình xế nắng (Sổ thanh phong địch ly đình vãn), còn trong nỗi nhớ tiếc giai nhân của Thôi Hộ thì cánh hoa đào vẫn cười giữa gió xuân như năm xưa (Đào hoa y cựu tiếu đông phong)... Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhóm hư từ “chi hồ giả dã hỉ yên tai” đầy vẻ suy lý phổ biến trong văn ngôn chữ Hán hầu như lại hoàn toàn vắng mặt trong thơ Đường: thao tác của thi pháp này là nhận định chứ không chứng minh, thể hiện chứ không miêu tả. Đối với nó thực tế là chất liệu để thi nhân tái tạo hiện thực và qua đó sáng tạo nghệ thuật, là phương tiện để họ chiếm lĩnh thế giới rồi từ đó nhận thức đời sống, nên toàn bộ các hiện tượng, lãnh vực và quá trình của hiện thực khách quan được đề cập tới đều được khuôn nắn lại theo một logic hoàn toàn chủ quan mang tính chất tiên nghiệm của người sáng tác, một logic nghệ thuật cho phép họ toàn quyền phản ảnh hiện thực theo mọi trạng thái ý thức và tình cảm, tự do phát hiện thế giới từ mọi góc độ nguyện vọng và suy tư. Cái gọi là khẩu khí trong các giai thoại về việc đoán biết được tâm tính, tương lai... của một người qua thơ của họ trước đây chính là hệ quả của đặc điểm này trong thi pháp thơ Đường, vì logic nghệ thuật của nó khiến người sáng tác vô hình trung còn bộc lộ cả ý thức lẫn tiềm thức, trí tuệ và thiên hướng của mình trong quá trình tiếp cận và đồng hóa thẩm mỹ hiện thực.


Dĩ nhiên, với các đặc điểm chủ yếu trong nội dung và định hướng nghệ thuật, trong nguyên lý thẩm mỹ và thủ pháp sáng tạo nói trên, thi pháp thơ Đường cũng có những mâu thuẫn nội tại và hạn chế tự thân mà nói cho cùng cũng là sản phẩm của không gian lịch sử - văn hóa trong đó nó hình thành và phát triển. Chẳng hạn, yêu cầu khái quát hóa cao độ trong khuôn khổ triết học - mỹ học phương Đông cổ điển đòi hỏi nó phải dùng nhiều các phương tiện và biện pháp tượng trưng, ước lệ, sự lạm dụng các yếu tố này tất yếu dẫn tới tính kinh viện mà nổi bật là loại ngôn ngữ điển cố như một loại “tiếng lóng” giữa những người có học với nhau. Hay yêu cầu tái tạo hiện thực một cách độc đáo đòi hỏi người sáng tác thơ Đường phải luôn luôn tìm kiếm các hình thức diễn đạt mới, đây chính là mảnh đất dọn sẵn cho chủ nghĩa hình thức nhiều khi giống như các khuynh hướng nghệ thuật duy mỹ nảy sinh. Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố bên ngoài hạn chế sự phát triển của thi pháp thơ Đường trong lịch sử. Nói theo ngôn ngữ xã hội học thì nó là một hệ thống chuẩn mực xã hội trung tính, nhưng trong quá trình phát triển đã ít nhiều đan xen với các chuẩn mực xã hội khác về tư tưởng, đạo đức, chính trị nên cũng bị phân hóa về tính lợi ích. Bởi vì trên lý thuyết thì thi pháp này mang tính khai phóng, tự do song trong thực tế thì nó luôn được sử dụng và do đó cũng bị giới hạn bởi các thi nhân, vốn là những con người với học vấn, trí tuệ, tình cảm, thái độ chính trị... cụ thể. Thứ nữa, qua thực tế khoa cử hàng ngàn năm ở các quốc gia Nho giáo, các thể loại thơ Đường với sự chuẩn hóa của chúng lại ít nhiều bị “chính thống hóa”, và do không có được những cách tân cần thiết về hình thức, thi pháp thơ Đường cũng thiếu đi những phương tiện để tự hoàn chỉnh mình và theo kịp lịch sử, nên đã dần dần trở thành một thi pháp thách đố thi hứng và tài năng...


Nhưng thi pháp cũng chỉ là một trong ba chiều làm nên không gian thơ Đường. Đời sống của thi nhân và quá trình sáng tác, phổ biến, thưởng thức tác phẩm của họ là hai chiều còn lại. Hai yếu tố này mang trong chúng những dấu ấn của không gian văn hóa mà người muốn tìm hiểu thơ Đường bắt buộc phải tiếp cận. Với những hình thức cụ thể của thực tiễn, những chi tiết sinh động của đời sống, mối liên hệ giữa hai yếu tố này vừa soi rọi cho nội dung thi pháp vừa xác định về kích thước văn hóa của thơ Đường trong lịch sử. Chính mối liên hệ ấy làm nảy sinh các giai thoại thơ Đường.

Dark Knight
Moderator
Moderator

Nam
Tổng số bài gửi : 410
Age : 24
+ Nơi ở : bik làm ji`
+ Sở thích : thik gái đẹp. Ai bik em nào giới thiệu tui zới (sẽ dc hậu tạ)
+ Tính tình : tự đánh giá đi
+ Tên thật .... : hỏi làm chi
+ Ước mơ của tớ là .... : sống hoài ko chết
+ Câu nói ưa thích của tớ .... : A di đà phật
bể học vô biên quay đầu là bờ

Registration date : 15/06/2008

Character sheet
công lực:
100/100  (100/100)
kinh nghiệm:
125/125  (125/125)
nghề nghiệp.:

Xem lý lịch thành viên http://comic.vuilen.com

Về Đầu Trang Go down

default Re: thơ cổ ko chế

Bài gửi by Dark Knight on Tue Jun 17, 2008 10:02 am

Dịch thơ:
Quạ kêu đêm
Lý Bạch

Chiều vàng bờ thành nhiều quạ về,
Trên cành xao xác liệng xập xè.
Tần Xuyên có kẻ bên khung cửi,
Lụa biếc như mây, vang tiếng nói.
Dừng thoi nhớ người nay đã xa,
Lệ ướt như mưa tình một khối.

Xuân ở nhà trong núi
Sầm Tham

Lương viên tao tác quạ chiều tà,
Xa tắp liêu xiêu mấy nóc nhà.
Người đã đi rồi cây chẳng biết,
Như xưa xuân tới lại ra hoa.

Qua sông Tang Càn
Giả Đảo

Thân gửi Tinh Châu chục độ sương,
Lòng về trông ngóng mãi Hàm Dương.
Tang Càn đâu biết vừa qua bến,
Ngoái lại Tinh Châu hoá cố hương.

Được thì hát vang, mất thì lại thôi,
Đa sầu đa hận cứ mãi như vậy.
Hôm nay có rượu thì hôm nay uống,
Ngày mai sầu đến thì ngày mai sầu.

Giải sầu

Mất thời buồn bã, được thời vui,
Đa cảm đa sầu mặc bóng câu.
Có rượu hôm nay xin hãy uống,
Ngày mai sầu đến lại mai sầu.

La Ẩn đường thi cử nhiều lận đận, 10 năm thi tiến sĩ không đỗ, buồn bã mà làm bài này.

Hoa lạnh lười nở, chim lười hót,
Ngựa đưa tin nhàn dạo đến tận lúc mặt trời lặn về tây.
Có nơi nào đã xuân đâu mà lòng đã nhớ,
Cành liễu mềm như không có lực trên đê Nguỵ vương.

Đê Nguỵ vương

Lạnh hoa biếng nở chim lười hót,
Ngựa dạo nhởn nhơ tận bóng tê (tây).
Khắp nẻo chưa xuân mà đã nhớ,
Liễu dương vô lực Nguỵ vương đê.

Mùa xuân năm Nguyên Hoà thứ 4 (809), Bạch Cư Dị đang làm tân khách của thái tử tại Lạc Dương, dạo trên đê Nguỵ vương tìm xuân. Đê Nguỵ vương: chỉ đê trên sông Lạc đoạn chảy qua thành Lạc Dương, vì phong cho Nguỵ vương Thái (con của Đường Thái Tông) nên có tên gọi như vậy. Đời xưa đây là một nơi thắng cảnh.

Ngày hoa (tức ngày xuân) cùng say để xua tan đi nỗi sầu,
Say bẻ một nhành hoa làm thẻ rượu.
Chợt nhớ tới bạn xưa đang bước bên trời,
(Nên) kế hoạch hôm nay phải đi Lương châu.

Cùng Lý Thập Nhất say nhớ Nguyên Cửu

Ngày hoa say khướt phá xuân sầu,
Thẻ rượu hái về một nhánh đâu.
Bỗng nhớ cố nhân nơi viễn xứ,
Hôm nay nhất định đến Lương châu.

Nguyên Cửu tức Nguyên Chẩn 元稹, bạn thân của Bạch Cư Dị. Năm Nguyên Hoà thứ 4 (809), Nguyên Chẩn phụng mệnh đi Đông Xuyên. Bạch Cư Dị tại Trường An, cùng em là Bạch Hành Giản 白行簡 và Lý Tiêu Trực 李杓直 (trong tiêu đề ghi là Lý Thập Nhất) lên sông Khúc chơi xuân, rồi đến nhà Tiêu Trực uống rượu, nhớ tới Nguyên Chẩn mà làm bài thơ này.
Chú thích:

tửu trù: Thẻ để ghi nhớ tuần rượu khi uống.

Câu đầu tiên trong "Tam mộng ký" 三夢記 của Bạch Hành Giản chép lại ghi là "Xuân lai vô kế phá xuân sầu" 春來無計破春愁, nhưng trong "Bạch thị Trường Khánh tập" 白氏長慶集 của Bạch Cư Dị thì chép như trên.

Dark Knight
Moderator
Moderator

Nam
Tổng số bài gửi : 410
Age : 24
+ Nơi ở : bik làm ji`
+ Sở thích : thik gái đẹp. Ai bik em nào giới thiệu tui zới (sẽ dc hậu tạ)
+ Tính tình : tự đánh giá đi
+ Tên thật .... : hỏi làm chi
+ Ước mơ của tớ là .... : sống hoài ko chết
+ Câu nói ưa thích của tớ .... : A di đà phật
bể học vô biên quay đầu là bờ

Registration date : 15/06/2008

Character sheet
công lực:
100/100  (100/100)
kinh nghiệm:
125/125  (125/125)
nghề nghiệp.:

Xem lý lịch thành viên http://comic.vuilen.com

Về Đầu Trang Go down

default Re: thơ cổ ko chế

Bài gửi by Dark Knight on Tue Jun 17, 2008 10:05 am

Xuân tới không bạn nên ít rong chơi
Ba phần vui thú, bớt đi hai phần
Huống chi sáng nay trong vườn hạnh
Gặp đủ mọi người nhàn hạ mà chẳng gặp anh.

Sông Khúc nhớ Nguyên Cửu (bản dịch Lê Nguyễn Lưu)

Xuân về vắng bạn ít dông dài
Vui thú ba phần giảm mất hai.
Huống nữa sớm nay trong vườn hạnh
Bạn mình chẳng gặp, gặp ai ai...

Sông Khúc nhớ Nguyên Cửu (tự dịch)

Xuân sang vắng bạn nhàn du ít,
Vui vẻ ba phần giảm mất đôi.
Sao thấy hôm nay vườn hạnh cũ,
Kẻ nhàn gặp hết, vẫn không Người.

Nhà tại làng Tĩnh An liễu đang buông xuống cửa sổ,
Trước đài Vọng Dịch hoa rụng đầy mặt đất (cuối xuân).
Ở hai nơi, ánh xuân cùng tắt lúc cuối ngày,
Người nhà nhớ khách, khách nhớ nhà.

Đài Vọng Dịch

Nhà tại Tĩnh An liễu nhả tơ,
Trước đài Dịch Vọng rụng muôn hoa.
Ánh xuân hai nẻo cùng thưa thớt,
Nhà nhớ khách xa, khách nhớ nhà.

Tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ 4 (809), Nguyên Chẩn 元稹 làm Giám sát ngự sử phụng mệnh đi Đông Xuyên án ngục, trong thời gian đó làm chùm thơ "Sứ Đông Xuyên". Ít lâu sau, Bạch Cư Dị làm 12 bài thơ hoạ lại. Bài này là một trong số đó. (Xem thêm bài "Vọng Dịch đài" của Nguyên Chẩn ở dưới)

Chú thích:

Tĩnh An: nhà của Nguyên Chẩn ở Trường An tại làng Tĩnh An.

Vọng Dịch đài: tại Đông Xuyên.

Tiếc cho tháng ba cũng là khi được ba chục tuổi,
Buồn ngóng đài Vọng Dịch ở bên sông.
Xem nay khi hết mùa xuân mới nói,
Nếu xuân chưa tàn thì chưa được về nhà.

Đi xứ ở Đông Xuyên - Đài Vọng Dịch (Hết tháng ba)

Tháng ba hối tiếc ba mươi tuổi,
Buồn ngắm bên sông Vọng Dịch đài.
Hết ánh thiều quang nay mới nói,
Xuân tàn mới được trở về nhà.

Hai câu cuối ý nói tuy mùa xuân cảnh đẹp và biết hết mùa xuân sẽ về nhưng tác giả vẫn mong hết xuân để được về, một sự so sánh ngầm rất tinh tế.

Đêm qua gió thổi làm nở hoa đào bên giếng lộ,
Điện trước cung Vị Ương bóng trăng cao.
Trong nhà công chúa Bình Dương, người ca nữ đang thừa hưởng ân sủng,
Ngoài rèm xuân lạnh, được ban áo gấm.

Khúc hát mùa xuân trong cung

Giếng lộ gió đêm hé nhuỵ đào,
Vị Ương điện trước bóng trăng cao.
Bình Dương ca nữ vui ân sủng,
Xuân lạnh được ban bức gấm bào.

Dark Knight
Moderator
Moderator

Nam
Tổng số bài gửi : 410
Age : 24
+ Nơi ở : bik làm ji`
+ Sở thích : thik gái đẹp. Ai bik em nào giới thiệu tui zới (sẽ dc hậu tạ)
+ Tính tình : tự đánh giá đi
+ Tên thật .... : hỏi làm chi
+ Ước mơ của tớ là .... : sống hoài ko chết
+ Câu nói ưa thích của tớ .... : A di đà phật
bể học vô biên quay đầu là bờ

Registration date : 15/06/2008

Character sheet
công lực:
100/100  (100/100)
kinh nghiệm:
125/125  (125/125)
nghề nghiệp.:

Xem lý lịch thành viên http://comic.vuilen.com

Về Đầu Trang Go down

default Re: thơ cổ ko chế

Bài gửi by Dark Knight on Tue Jun 17, 2008 10:06 am

Chú thích:

lộ tỉnh: giếng không có nắp đậy.

Vị Ương: cung điện do Hán Cao Tổ sai Tiêu Hà xây.

Bình Dương: tức Bình Dương công chúa, chị của Hán Vũ Đế.

ca vũ: người ca múa, ở đây là Vệ tử phu, được Bình Dương công chúa tiến cử lên Hán Vũ Đế.

Dark Knight
Moderator
Moderator

Nam
Tổng số bài gửi : 410
Age : 24
+ Nơi ở : bik làm ji`
+ Sở thích : thik gái đẹp. Ai bik em nào giới thiệu tui zới (sẽ dc hậu tạ)
+ Tính tình : tự đánh giá đi
+ Tên thật .... : hỏi làm chi
+ Ước mơ của tớ là .... : sống hoài ko chết
+ Câu nói ưa thích của tớ .... : A di đà phật
bể học vô biên quay đầu là bờ

Registration date : 15/06/2008

Character sheet
công lực:
100/100  (100/100)
kinh nghiệm:
125/125  (125/125)
nghề nghiệp.:

Xem lý lịch thành viên http://comic.vuilen.com

Về Đầu Trang Go down

default Re: thơ cổ ko chế

Bài gửi by Dark Knight on Tue Jun 17, 2008 10:08 am

Dịch nghĩa:

Hàn Phi đến chết vẫn còn hận,
Ngu Khanh viết sách đến cùng tận nỗi sầu.
Trường Sa do một dòng sông Tương bồi đắp,
Mạnh Giao và Giả Đảo là hai kẻ tù của thơ.

Nói phóng

Hàn Phi chết còn hận,
Ngu Khanh viết cạn sầu.
Trường Sa dòng Tương đắp,
Mạnh, Đảo thơ giam tù.

Chú thích:

Hàn Phi: tức Hàn Phi tử, bạn đồng môn với Lý Tư và cùng Lý Tư giúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Hoa nhưng lại bị Lý Tư ghen ghét. Lý Tư tâu với Thuỷ Hoàng rằng Hàn Phi vốn là công tử nước Hàn và chỉ lo cho nước Hàn và sai giết. Lý Tư mang thuốc độc cho Hàn Phi uống. Trước khi chết, Hàn Phi xin được gặp Thuỷ Hoàng một lần những không được. Khi Tần Thuỷ Hoàng hối hận sai tha cho Hàn Phi thì ông đã chết.

Ngu Khanh: là thuyết khách, sau làm tể tướng của nước Triệu đời Chiến Quốc, sau vì hoàn cảnh phải trốn sang nước Lương, bất đắc ý mà chuyển sang viết sách. Ông lưu lại bộ "Ngu thị xuân thu".

Trường Sa: nơi bồi đắp của sông Tương, tức một nhánh của sông Trường Giang.

thi tù: kẻ tù của thơ. Ý nói thơ Mạnh Giao và Giả Đảo chau chuốt từ ngữ và câu chữ, lao lực để làm thơ. Người đời sau còn xưng Giả Đảo là Thi nô (nô bộc của thơ).

Dark Knight
Moderator
Moderator

Nam
Tổng số bài gửi : 410
Age : 24
+ Nơi ở : bik làm ji`
+ Sở thích : thik gái đẹp. Ai bik em nào giới thiệu tui zới (sẽ dc hậu tạ)
+ Tính tình : tự đánh giá đi
+ Tên thật .... : hỏi làm chi
+ Ước mơ của tớ là .... : sống hoài ko chết
+ Câu nói ưa thích của tớ .... : A di đà phật
bể học vô biên quay đầu là bờ

Registration date : 15/06/2008

Character sheet
công lực:
100/100  (100/100)
kinh nghiệm:
125/125  (125/125)
nghề nghiệp.:

Xem lý lịch thành viên http://comic.vuilen.com

Về Đầu Trang Go down

default Re: thơ cổ ko chế

Bài gửi by Hyu Liilo on Tue Jun 17, 2008 11:07 am

Hay hay lắm ...
Dạo này Dark prince nhà ta chăm post bài thể nhể ... covu

Hyu Liilo
Admin
Admin

Nam
Tổng số bài gửi : 1190
Age : 23
+ Nơi ở : Bạn thấy tui ở đâu thỳ tui ở đóa ...
+ Sở thích : Thick đi bụi ... :D
+ Tính tình : ? ? ?
+ Tên thật .... : Chưa update ...
+ Ước mơ của tớ là .... : Là 1 dancer ...
+ Đang học/làm việc tại .... : ... Tại gia ...
+ Câu nói ưa thích của tớ .... : ...v.v
Registration date : 05/01/2008

Character sheet
công lực:
100/100  (100/100)
kinh nghiệm:
1000/100  (1000/100)
nghề nghiệp.:

Xem lý lịch thành viên http://anhsaoxanh.net/

Về Đầu Trang Go down

default Re: thơ cổ ko chế

Bài gửi by Sponsored content Today at 11:23 pm


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết